Soạn bài: PHÚ SÔNG BẠCH ĐẰNG (đầy đủ)

Hướng dẫn soạn bài:
Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu

I. HƯỚNG DẪN HỌC BÀI

Câu 1. Đọc kĩ lại phần Tiểu dẫn, cần tóm tắt để nắm được bố cục bài phú, vị trí của chiến thắng Bạch Đằng trong lịch sử đấu tranh giữ nước của dân tộc. Nắm được vị trí của đề tài sông Bạch Đằng trong văn học. Đọc lại các chú thích để hiểu các từ khó, các điển tích, điển cố được dùng trong bài.
Câu 2. a. Bài phú có hai nhân vật là chủ thể trữ tình (chính là tác giả) và nhân vật các bô lão. Nhân vật các bô lão xuất hiện với tư cách là đối tượng tâm tình.
b. Nhân vật “khách” trong tác phẩm này chính là hình ảnh của nhà văn. “Khách” dạo chơi thiên nhiên, thăm chiến địa nhưng mục đích không phải chỉ để thưởng thức vẻ đẹp thiên nhiên mà còn để thỏa cái thú tiêu dao, rong chơi bốn biển để thưởng ngoạn cảnh trí non sông, mở mang vốn trí thức cho mình. “Khách” xuất hiện với tư thế của con người có tâm hồn khoáng đạt, có hoài bão lớn:
Nơi có người qua, đâu mà chẳng biết.
Đầm Vân Mộng chứa vài trăm trong dạ đã nhiều.
Mà lòng tráng, chí bốn phương vẫn còn tha thiết.
c. Cái “tráng trí bốn phương” của “khách” được gợi lên thông qua những địa danh nổi tiếng. Những địa danh này có hai loại:
– Địa danh lấy trong điển cố Trung Quốc là loại địa danh mà tác giả (“khách”) đã đi qua chủ yếu bằng sách vở, bằng tưởng tượng (đây là một cách thể hiện nghệ thuật khá quen thuộc của thơ ca trung đại). Nó vừa thể hiện sự am hiểu sâu sắc của nhà văn về văn học và sử học Trung Hoa, vừa nói lên vẻ đẹp tâm hồn của nghệ sĩ. Những địa danh này đều gắn với không gian to rộng: biển lớn, sông hồ, gắn với những nơi nổi tiếng và đều thể hiện cái tráng chí bốn phương của “khách”:
Khách có kẻ:
Gương buồm giong gió chơi vơi,
Lướt bể chơi trăng mải miết
Sớm gõ thuyền chừ Nguyên, Tương,
Chiều lần thăm chừ Vũ Huyệt.
Cửu Giang, Ngũ Hồ, Tam Ngô, Bách Việt.
– Loại địa danh thú hai là những địa danh trên lãnh thổ Đại Việt, gắn với những không gian cụ thể: Cửa Đại Than, bến Đông Triều, sông Bạch Đằng… Những địa danh này đều có thực và đang hiện hữu ngay trước mắt chủ thể trữ tình. Cảnh thiên nhiên đất Việt cũng vẫn được miêu tả với những nét vẽ rất hùng vĩ và hoành tráng:
Bát ngát sóng kình muôn dặm
Thướt tha đuôi trĩ một màu.
Song cũng có những nét ảm đạm, hắt hiu:
Bờ lau san sát, bến lách đìu hiu.
Sông chìm giáo gãy, gò đầy xương khô…
Từ hệ thống những danh lam thắng cảnh, những di tích lịch sử mà nhà văn nhắc ở trên, chúng ta có thể nhận thấy “khách” là người có tầm hiểu biết rộng, có tráng chí bốn phương, ham thích cuộc sống phong lưu cùng thiên nhiên mây gió, thích thù tiêu dao, và có tâm hồn tự do phóng khoáng.
Câu 3. Trước cảnh thiên nhiên sông Bạch Đằng (vừa hùng vĩ, hoành tráng lại vừa ảm đạm, đìu hiu), với một tâm hồn phong phú và nhạy cảm của người nghệ sĩ, “khách” vừa phấn khởi, tự hào lại vừa buồn thương, nuối tiếc, “khách” vui trước cảnh non sông vừa hùng vĩ vừa thơ mộng:
Bát ngát sóng kình muôn dặm,
Thướt tha đuôi trĩ một màu.
Nước trời: một sắc, phong cảnh: ba thu.
Tự hào trước dòng sông từng ghi dấu bao chiến công hiển hách. Nhưng khách cũng buồn thương nuối tiếc vì chiến trường xưa một thời oanh liệt nay trở nên trơ trọi, hoang vu. Dòng thời gian đang vùi lấp dần bao giá trị vào quá khứ:
Sông chìm giáo gãy, gò đầy xương khô,
Buồn vì thảm cảnh, đứng lặng giờ lâu.
Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá,
Tiếc thay dấu vết luống còn lưu!
Về mặt nghệ thuật, những câu văn trong đoạn chủ yếu được ngắt bằng nhiều nhịp chẵn tạo nên giọng điệu nhịp nhàng, trầm lắng và khơi gợi nhiều nỗi suy tư.
Câu 4. Trong bài phú này, hình tượng các bô lão đóng vai trò là người kể chuyện và là người bình luận những chiến tích xưa. Các bô lão cũng đồng thời là đối tượng tâm tình của nhân vật “khách”. Những nhân vật này có thể có thật – những người đã từng tham gia trận kịch chiến oai hùng thưở trước, nhưng cũng có thể là những nhân vật hư cấu, nhân vật đối thoại do tác giả sáng tạo nên để dễ dàng bày tỏ những tâm tư, tình cảm của mình.
Các bô lão xuất hiện giữa lúc “khách” đang bùi ngùi nhớ tiếc. Và thế là những chiến công xưa, đặc biệt là chiến công của “nhị thánh” được các bô lão hồi tưởng lại. Lời kể của các bô lão rành rọt theo trình tự diễn biến tình hình: từ lúc quan ta xuất trận với khí thế hào hùng (Thuyền bè muôn đội, tinh kì phấp phới; Hùng hổ sáu quân, giáo gươm sáng chói), đến khi trận chiến diễn ra gay go, quyết liệt (Trận đánh được thua chửa phân; Chiến lũy Bắc Nam chống đối; Ánh nhật nguyệt chừ phai mờ, bầu trời đất chừ sắp đổi). Và rồi cuối cùng chính nghĩa đã chiến thắng gian tà, quân giặc “hung đồ hết lối” đành chấp nhận chuốc lấy bại vong:
Đến nay nước sông tuy chảy hoài,
Mà nhục quân thì không rửa nổi.
Thái độ và giọng điệu của các bô lão khi kể chuyện đầy nhiệt huyết, tự hào. Đó đúng là cảm hứng của những người trong cuộc. Lời kể tuy ngắn gọn, súc tích và cô đọng, nhưng vẫn khái quát đầy đủ, chân thực, sinh động không khí của trận đánh, của chiến trường.
Phần kể của các bô lão được khép lại bằng những lời bình luận sắc sảo: ta thắng giặc vừa vì địa thế núi sông hiểm trở, vừa vì đất nước ta có truyền thống tự ngàn xưa; nhưng điều quyết định vẫn là ở nhân tố con người, vẫn là nhờ “nhân tài giữ cuộc điện an”.
Tuy nhiên: Từ có vũ trụ, đã có giang sơn.
Quả là: Trời đất cho nơi hiểm trở,
Cũng nhờ nhân tài giữ cuộc điện an,
… … … … … … … … … … … … …
Kìa trận Bạch Đằng mà đại thắng,
Bởi đại vương coi thế giặc nhàn.
Câu 5. Trong phần cuối, lời ca của các vị bô lão mang ý nghĩa tổng kết. Nó giống như một tuyên ngôn về chân lí:
Sông Đằng một dải dài ghê,
Luồng to sóng lớn dồn về biển Đông,
Những người bất nghĩa tiêu vong,
Ngàn thu chỉ có anh hùng lưu danh.
Lời ca của “khách” tiếp nối lời các bô lão là bài ca ca ngợi sự “anh minh” của “hai vị thánh quân” (vua Trần Nhân Tông và Trần Thánh Tông). Đồng thời ca ngợi giá trị của những chiến công (đem lại nền thái bình muôn thuở):
Anh minh hai vị thánh quân ,
Sông đây rửa sạch mấy lần giáp binh
Giặc tan muôn thủa thanh bình,
Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao.
Tiếp nối phần bình luận của các vị bô lão về lịch sử, hai câu cuối của bài ca này lại là lời khẳng định của một chân lí nữa – chân lí về mối quan hệ giữa “địa linh” (đất hiểm) và “nhân kiệt” (người tài). Trong mối quan hệ ấy, tác giả khẳng định “nhân kiệt” là nhân tố giữ vai trò quyết định. Ta thắng giặc không chỉ ở “đất hiểm” mà quan trọng hơn còn là bởi dân tộc ta có “đức cao”. Khẳng định chân lí này cũng là nêu cao vai trò của con người trong lịch sử. Sau này trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi cũng nhắc đến cái “đức” của nhân dân ta:
Họ đã tham sống sợ chết, mà hòa hiếu thực lòng
Ta lấy toàn quân là hơn để nhân dân nghỉ sức.
Câu 6. Giá trị nội dung: Phú sông Bạch Đằng là tác phẩm tiêu biểu cho dòng văn học yêu nước thời Lí – Trần. Bài phú thể hiện lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc – tự hào về truyền thống anh hùng bất khuất và truyền thống, đạo lí nhân nghĩa sáng ngời của dân tộc Việt Nam. Tác phẩm cũng thể hiện tư tưởng nhân văn cao đẹp qua việc đề cao vai trò, vị trí của con người.
Giá trị nghệ thuật: Phú sông Bạch Đằng có cấu từ đơn giản mà hấp dẫn; bố cục chặt chẽ; lời văn, nhịp điệu uyển chuyển, linh hoạt; hình tượng nghệ thuật sinh động, vừa gợi hình tượng vừa giàu sức khái quát và triết lí. Ngôn từ nghệ thuật của tác phẩm trang trọng, tráng lệ, lắng đọng, gợi cảm và giàu chất suy tư. Bài phú là một đỉnh cao nghệ thuật của thể phú trong lịch sử văn học Việt Nam.
Câu 7. So sánh lời ca của “khách” kết thúc bài Phú sông Bạch Đằng và bài thơ sông Bạch Đằng (Bạch Đằng giang) của Nguyễn Sưởng:
Mồ thù như núi, cỏ cây tươi,
Sóng biển gầm vang, đá ngất trời.
Sự nghiệp Trùng Hưng ai dễ biết,
Nửa do sông núi, nửa do người.
(Bản dịch)
Lời ca của “khách” (cũng là một bài thơ) trong phần kết của bài Bạch Đằng giang phú và bài thơ Bạch Đằng giang của Nguyễn Sưởng có nhiều nét giống nhau: Cả hai bài thơ đều thể hiện lòng tự hào trước những chiến công hiển hách trên sông; tự hào về tài năng, đức độ, về sự anh minh của hai vị thánh quân (Trần Nhân Tông và Trần Thánh Tông). Hai bài ca còn bày tỏ thái độ đề cao, trân trọng vai trò và vị trí của con người trong quá trình làm nên lịch sử.

II. KIẾN THỨC CẦN NHỚ
1. Trương Hán Siêu (? – 1354) tự là Thăng Phủ, người làng Phúc Thành, huyện Yên Ninh (nay là thị xã Ninh Bình), vốn là môn khách của Trần Hưng Đạo, từng làm tới chức Hàn lâm học sĩ, rồi Tham tri chính sự. Trương Hán Siêu tính tình cương trực, học vấn uyên thâm, được các vua Trần tin cậy và được nhân dân vô cùng kính trọng. Tác phẩm hiện còn 4 bài thơ, 3 bài văn trong đó có bài Phú sông Bạch Đằng nổi tiếng.
2. Bạch Đằng là một nhánh sông đổ ra biển thuộc Quảng Ninh, nơi đã từng ghi dấu nhiều chiến công oanh liệt trong lịch sử giữ nước của dân tộc ta. Trong đó đáng nhớ nhất là chiến thắng năm 938 – Ngô Quyền phá tan quân Nam Hán giết Lưu Hoằng Thao và trận thủy chiến năm 1288, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đánh tan quân Mông – Nguyên, bắt sống tướng giặt là Ô Mã Nhi. Nhiều tác giả đã lấy đề tài sông Bạch Đằng là nguồn cảm hứng cho sáng tác như Trần Minh Tông với Bạch Đằng giang, Nguyễn Trãi với Bạch Đằng hải khẩu, Nguyễn Sưởng với Bạch Đằng giang, Nguyễn Mộng Tuân với Hậu Bạch Đằng giang phú… Trong đó, tác phẩm nổi tiếng nhất phải kể đến đó là bài Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu.
3. Phú là một thể văn cổ dùng để tả cảnh vật, phong tục hoặc tính tình. Chất trữ tình và yếu tố khoa trương đậm đặc trong phú. Có phú cổ thể và phú Đường luật. Phú cổ thể như một bài văn xuôi dài, có vần mà không nhất thiết có đối, còn gọi là phú lưu thủy. Phú Đường luật được đặt ra từ đời Đường, có vần, có đối, có luật bằng trắc chặt chẽ, có những kiểu câu được quy phạm rõ ràng. Nhìn chung một bài phú thường gồm bốn đoạn: đoạn mở, đoạn giải thích, đoạn bình luận và đoạn kết.
Bài Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu làm theo lối phú cổ thể – loại phú có từ trước thời Đường, có vần, không nhất thiết phải có đối, cuối bài thường được kết bằng thơ.
4. Phú sông Bạch Đằng là niềm tự hào về truyền thống yêu nước, về những chiến công lịch sử thông qua những hoài niệm sâu sắc về quá khứ oai hùng. Đồng thời, nó cũng là niềm tự hào về truyền thống đạo lí nhân nghĩa, về tư tưởng nhân văn của dân tộc thông qua việc đề cao vai trò, vị trí và đức độ của con người.
5. Niềm tự hào, tự tôn dân tộc của bài văn được tạo ra bởi những hình ảnh nghệ thuật phóng khoáng, giàu sức gợi kết hợp trong những câu văn vừa hào sảng, vừa vang vọng vừa đậm chất suy tư.

III. LUYỆN TẬP

Câu 1 : Học sinh tự học thuộc lòng một số câu.
Câu 2 :
– Lời ca của khách kết thúc bài Phú sông Bạch Đằng: ca ngợi sự anh minh của hai vị thánh quân, ca ngợi chiến tích của sông Bạch Đằng, khẳng định chân lí “cốt mình đức cao”.
So sánh: cả hai bài đều thể hiện niềm tự hào về những chiến công của dân tộc trong công cuộc chống xâm lược và đều khẳng định vị trí, vai trò quyết định của con người. Khác nhau cơ bản ở hai bài này là mức độ vai trò của con người: Trương Hán Siêu đề cao vai trò con người hơn “cốt mình đức cao”, còn Nguyễn Sưởng thì san bằng “Nửa do sông núi, nửa do người”.